Cây móc mèo làm thuốc chữa bệnh sốt, làm thuốc bổ

Kết quả: 5.0/5 - (1 phiếu)

Cây móc mèo làm thuốc chữa bệnh sốt, làm thuốc bổ

Móc mèo, Vuốt hùm, Điệp mắt mèo - Caesalpinia bonduc (L.) Roxb. (C. bonducella (L.) Flem.), thuộc họ Ðậu - Fabaceae.

Mô tả móc mèo

  • Cây nhỡ leo, có cành màu xanh mảnh, có lông tơ, có gai. Lá lông chim hai lần; 3-9 đôi lá chét bậc nhất, lá chét bậc hai 12-24, mọc đối, nhiều lông vàng lúc non, lá chét trên cùng lớn hơn cả, gân 8-10 đôi.
  • Chùm hoa ở trên nách lá, có khi có 1-2 nhánh, dài 12-20cm, có lông mềm, có gai; lá bắc hình dải 6-12mm, cuống hoa 4-6mm, nụ có lông mềm, đài có lông, không đều nhau; cánh hoa vàng, không đều, nhị có chỉ nhị có lông. Bầu có cuống, có 2 noãn. Quả đậu hình bầu dục dài 5-8cm, rộng 4cm, phủ gai đứng, cao 7-9mm. Hạt 1-2, to 2cm, xanh mắt mèo có đốm sậm.
  • Ra hoa tháng 7-10, có quả tháng 11-3.

Bộ phận dùng móc mèo

  • Hạt, lá, rễ - Semen, Folium et Radix Caesalpiniae Bonducis.

Cây móc mèo làm thuốc chữa bệnh sốt, làm thuốc bổ

Hình ảnh: móc mèo

Nơi sống và thu hái móc mèo

  • Cây của vùng Ðông Nam Á, từ Xri Lanca qua Ấn Ðộ, Mianma, Thái Lan, Campuchia, Lào, Việt Nam, Nam Trung Quốc tới quần đảo Malaixia. Ở nước ta thường gặp ven rừng, nhất là các đồi dọc bờ biển tới độ cao 2000m, từ Hoà Bình tới Kiên Giang, Côn Ðảo.

Thành phần hóa học móc mèo

  • Hạt cây chứa 23,92% dầu, 1,888% nhựa đắng, 5,452% đường, 4,521% muối vô cơ, 3,412% chất albumin hoà tan, 18,200% chất không hoà tan, 37,795% tinh bột và 5%
  • muối. Dầu hạt có màu vàng nhạt, mùi khó chịu, vị đắng nhẹ, trong đó có chất nhựa là bonducin (mà có tác giả cho là hoạt chất của hạt).
  • Ngày nay, từ 1988, người ta đã xác định được nhiều hoạt chất đắng có tên là - caesalpin.

 

Chi tiết: phân phối cà gai leo  tại tphcm

Công dụng, chỉ định và phối hợp móc mèo

  • Hạt được dùng làm thuốc chữa bệnh sốt cơn và làm thuốc bổ. Người ta lấy 30g hạt Móc mèo tán lẫn với hạt Hồ tiêu hay hạt Ớt đều 30g, dùng hàng ngày
  • 3 lần, mỗi lần 1-2g. Bonducin luyện thành viên dùng để chống sốt rét cơn cũng có kết quả tốt như sulfat quinin; với liều 0,10-0,20g; còn có tác dụng giải nhiệt, trị kiết lỵ. Ở Inđônêxia người ta dùng hạt làm thuốc trị giun và trị ho.
  • Ở Malaixia, nước hãm lá dùng trị sán xơ mít.
  • Ở Thái Lan, lá lợi trung tiện được sử dụng làm thuốc chữa tiểu tiện không bình thường. Rễ được dùng làm thuốc phát hãn (làm toát mồ hôi) và dùng chữa hóc xương.