Rau má có tác dụng thanh nhiệt giải độc

Kết quả: 5.0/5 - (1 phiếu)

Rau má - Centella asiatica (L.) Urb thuộc họ Hoa tán - Apiaceae. 

Mô tả Rau má :

  • Cây  thảo mọc bò, phân nhánh nhiều  trên mặt đất.
  • Rễ mọc  từ các mấu của  thân.
  • Lá có  cuống dài, phiến hình  thận hoặc gân  tròn, mép khía  tai bèo. 
  • Cụm hoa hình  tán đơn mọc ở nách  lá gồm 1-5 hoa nhỏ không  cuống màu trắng hoặc phớt đỏ. 
  • Quả dẹt, có sống hơi rõ.   
  • Bộ  phận  dùng:  Toàn  cây  - Herba  Centellae Asiaticae,  thường  có  tên  là Tích tuyết thảo. 
Rau má có tác dụng thanh nhiệt giải độc
Rau má có tác dụng thanh nhiệt giải độc

Nơi sống và thu hái Rau má :

  • Loài liên nhiệt đới, mọc hoang khắp nơi, chỗ ẩm mát. 
  • Thu hái cây quanh năm, thường dùng tươi. 
  • Thành  phần  hoá  học:  Trong  cây  có  alcaloid  là  hydrocotulin  và  các glycosid asiaticosid và centellosid, có tác dụng tới các mô liên kết, giúp cho các mô 
  • tái tạo nhanh chóng, do đó làm các vết thương mau lành và lên da non. Chất asiaticosid có tác dụng kháng khuẩn (Do làm tan màng sáp của vi khuẩn) và làm cho vết thương mau chóng lên da non. 
  • Tính vị, tác dụng: Rau má có vị hơi đắng, ngọt, tính hơi mát, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tán ứ chỉ thống, lương huyết sinh tân, lợi niệu. 

Công dụng, chỉ định và phối hợp:

  • Thường dùng  trị cảm mạo phong nhiệt,  thuỷ đậu  sởi,  sốt da vàng mặt, viêm họng, sưng amygdal, viêm khí quản, ho, viêm đường tiết niệu, đái dắt đái buốt, còn dùng trị  thổ huyết, chảy máu cam, tả lỵ, khí hư, bạch đới, giải độc  lá ngón và nhân ngôn. 
  • Dùng ngoài  trị rắn cắn, mụn nhọt, lở ngứa và vết thương chảy máu.  
  • Ở Trung Quốc, rau má được dùng trị cảm mạo phong nhiệt, viêm phần trên đường hô hấp, viêm gan, lỵ, cúm, ăn phải vật có độc, viêm màng phổi, rắn cắn, gai đâm vào thịt, trúng độc nấm dại, ngộ độc sắn, trúng độc thuốc nông dược, ngộ độc thức ăn và đòn ngã tổn thương.  
  • Cách dùng:
  • Rau má dùng  ăn  sống hoặc ép  lấy nước pha đường uống  cho mát.
  • Có  thể giã  lấy nước uống hoặc sắc uống làm thuốc giải nhiệt hoặc giải độc, lợi tiểu, cầm máu, trị kiết lỵ, táo bón.
  • Ngày dùng 30-40g  tươi.
  • Dùng ngoài đắp  chữa  các vết  thương do ngã  gãy xương, bong  gân  và  làm  tan mụn nhọt.
  • Rau má (300g) và phèn chua (3g) giã nhỏ, hoà nước Dừa, vắt lấy nước uống trị kinh nguyệt khôngđều, đau lưng, tức ngực, đau bụng máu, khô da, nhức đầu, nóng lạnh, bạch đới.  
  • Người  ta đã chế Rau má  thành những dạng pomat để chữa các vết  thương phần mềm cho mau liền da, liền sẹo.  
Ðơn thuốc:  
1. Chảy máu chân răng, chảy máu cam và các chứng chảy máu: Rau má 30g, Cỏ nhọ nồi và Trắc bá diệp mỗi vị 15g sao, sắc nước uống.  
2. Khí hư bạch đới: Rau má phơi khô làm thành bột uống mỗi sáng dùng 2 thìa cà phê.  
3. Thống kinh, đau  lưng, đau bụng, ăn kém uể oải: Rau má 30g,  ích mẫu 8g, Hương nhu 12g, Hậu phác 16g. Ðổ 600ml nước, sắc còn 200ml chia 2 lần uống trong ngày.  
4. Viêm hạnh nhân: Rau má tươi giã lấy nước cốt, hoà ít giấm nuốt từ từ.
5. Ho, đái buốt, đái dắt: Rau má tươi giã lấy nước cốt uống hoặc sắc uống.  
6. Viêm tấy, mẩn ngứa: Rau má trộn dầu giấm ăn, hoặc giã nát vắt lấy nước, thêm đường uống.  
7. Thuốc lợi sữa: Rau má ăn tươi hay luộc ăn cả cái và nước.
 
Có thể bạn sẽ cần

Rau má có tác dụng thanh nhiệt giải độc